|
|
|
Liên kết website
|
|
|
|
|
|
|
|
Công
tác xuất bản là một phần kết quả của hoạt động khoa học trong bảo tàng.
Qua mỗi ấn phẩm, bạn đọc phổ thông và các nhà nghiên cứu có thêm tư
liệu và hệ thống hoá kiến thức trong từng giai đoạn lịch sử nói riêng,
lịch sử Việt Nam nói chung. Những kết quả nghiên cứu đó được công bố
dưới các hinh thức:
- Kỷ yếu khoa học của các cuộc Hội thảo, Hội nghị.
- Thông báo khoa học hàng năm.
- Sách:
+
Biên soạn và tham gia biên soạn về các vấn đề chung ( BTLSVN, Các Bảo
tàng Quốc gia Việt Nam, Cổ vật Việt Nam, Những chặng đường khám
phá........)
+ Sách nghiên cứu về một nền văn hoá khảo cổ ( Văn hoá Hoà Bình, Văn hoá Bắc Sơn, Văn hoá Xóm Cồn.....)
+
Sách nghiên cứu về một di tích hay hệ thống di tích ( Di tích con người
thời tối cổ trên đất nước Việt Nam, Khu mộ cổ Châu Can, Mộ cổ Việt Khê,
Tàu cổ Cà Mau, Khảo cổ học tại di tích Cố đô Huế...)
+
Sách nghiên cứu về chuyên đề ( Tiền Sơ sử Quảng Nam – Đà Nẵng, Tiền sơ
sử Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Kim loại Việt Nam, Trống đồng Đông Sơn
tàng trữ tại BTLSVN, Gốm Minh Văn, Gốm Bát Tràng, Gốm sứ thời Minh,
Điêu khắc đá Chămpa...)
+ Sách dịch ( Bí mật của cây đèn hình người)
|
Bảo
tàng Lịch sử Việt Nam (BTLSVN) hiện có đội ngũ cán bộ trình độ nghiệp
vụ chuyên môn khá cao. Đội ngũ cán bộ này 100% có trình độ đại học,
được đào tạo chủ yếu ở các trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Văn hóa, Đại học Mỹ thuật, Đại học Ngoại ngữ, Tin học… và đã
trưởng thành qua quá trình trực tiếp tham gia hoạt động nghiệp vụ tại
bảo tàng.
Để
phát hiện, gìn giữ và phát huy một cách có hiệu quả những di sản mà các
thế hệ cha ông để lại, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, những thế hệ
đi trước đã có những đóng góp tích cực trong việc đào tạo thế hệ cán bộ
chuyên môn trẻ vững về nghiệp vụ, nhanh nhạy về thao tác kỹ thuật đáp
ứng được nhu cầu của xã hội trong thời kỳ mở cửa hoà nhập với cộng đồng
quốc tế.

|
| Một buổi tập huấn do chuyên gia Bỉ trực tiếp giảng dạy |
Cũng
với tinh thần ấy, trong nhiều năm qua BTLSVN đã gửi cán bộ đi học trên
đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) tại Viện khảo cổ, Trường đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội … Hiện nay bảo tàng đã
có 5 cán bộ đạt học vị Tiến sĩ và 5 Thạc sĩ.
Hệ
thống trưng bày và kho bảo quản của bảo tàng đã trở thành giảng đường
thứ hai của các sinh viên và nghiên cứu sinh trong và ngoài nước. Rất
nhiều luận văn cử nhân, thạc sĩ, TS và các đề tài khoa học trong và
ngoài nước đã sử dụng tài liệu ở BTLSVN. Tuy BTLSVN chưa là một trung
tâm đào tạo, nhưng nhiều cán bộ trong bảo tàng đã được các cơ sở đào
tạo mời giảng dạy, hướng dẫn luận án trên đại học và tham gia đào tạo
cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ.
|
Trên
cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình, căn cứ vào đường lối đối ngoại của
Đảng và Nhà nước, BTLSVN đã tiến hành trao đổi thư tín, tài liệu, cử
cán bộ đi tham quan, học tập, tham gia hội thảo với các bảo tàng, các
tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu chuyên ngành trên thế giới. Trao
đổi sách báo và các ấn phẩm chuyên ngành với các bảo tàng, các cơ quan
nghiên cứu: Pháp, Hungari, Đức, Hàn Quốc, Bỉ, Nhật Bản, Canada, Trung
Quốc, Thuỵ Điển... (mỗi năm trao đổi hàng trăm ấn phẩm). Hàng năm số
lượng ấn phẩm chuyên môn Bảo tàng học, Lịch sử, Khảo cổ... được gửi
tặng từ các nước tăng lên rất nhiều, trong đó có những cuốn quý: Khu mộ
cổ Nam Việt Vương, Cổ tiền học, đồ ngọc....
BTLSVN
đón và làm việc với nhiều đoàn cán bộ bảo tàng đến từ các nước Châu Á ,
Châu Âu, Châu Mỹ... đặt mối quan hệ trao đổi. Tổ chức các hội thảo khoa
học với các đối tác trong và ngoài nước tại bảo tàng. Được sự quan tâm
của các cấp lãnh đạo, BTLSVN đã tổ chức được nhiều lượt cán bộ đi tham
quan, học tập, tham gia hội thảo với các bảo tàng, các tổ chức quốc tế.
Thông qua mối quan hệ trao đổi này, các thông tin về nghiệp vụ, về
ngành ngày càng được đáp ứng, các cán bộ của bảo tàng đã tiếp cận được
với các phương tiện hiện đại của các bảo tàng thế giới trên nhiều lĩnh
vực: phương pháp bảo quản hiện vật, nghệ thuật trưng bày bảo tàng, các
phương pháp để phát huy vai trò giáo dục...

|
| Thượng nghị viện vương quốc Bỉ thăm bảo tàng |
Trong
quá trình giao lưu quan hệ với các nước trên thế giới, các tổ chức quốc
tế, các hiệp hội... BTLSVN đã nhận được nhiều sự giúp đỡ về vật chất và
những kinh nghiệm để tiếp nhận, triển khai các dự án, thực hiện các
chương trình hợp tác với Nhật Bản (1998- 2000); với Vương quốc Bỉ
(2001- 2004) và sẽ tiếp tục giai đoạn hai của dự án (2006- 2010) hợp
tác với APEFE thông qua Bảo tàng Hoàng gia Mariemont; với Thuỵ Điển
(2001- 2003), hiện tại đang xúc tiến triển khai dự án vùng giữa Việt
Nam - Lào - Campuchia thông qua dự án Chương trình hợp tác Đông Nam Á
(2005- 2008) mà bảo tàng Văn hoá Thế giới Thuỵ Điển làm đối tác với sự
tài trợ của quỹ SIDA.
Thông
qua các dự án, BTLSVN đã được trang bị thêm nhiều phương tiện máy móc
kỹ thuật hiện đại, các ấn phẩm, cẩm nang về các công tác của bảo tàng,
cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ bảo tàng được trao đổi
với các chuyên gia trong lĩnh vực bảo tàng. Ngoài ra, còn lựa chọn được
những học viên tiêu biểu của các khoá tập huấn đi tham quan, học tập ở
nước ngoài.

|
| Bộ trưởng Văn hoá vương quốc Thái Lan thăm bảo tàng |
Với
chủ trương chung của Đảng và Nhà nước mở rộng giao lưu với cộng đồng
quốc tế, với sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo, hy vọng rằng trong thời
gian tới, BTLSVN sẽ nhận được nhiều sự giúp đỡ quý giá về vật chất và
tinh thần để BTLSVN bảo vệ và phát huy hơn nữa giá trị lịch sử - văn
hoá hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng, xứng đáng là bảo tàng quốc gia
của Việt Nam.
|
Thư viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (BTLSVN) hiện lưu giữ hơn 10.000 đầu ấn phẩm với nhiều thứ tiếng: Anh,

|
| Một góc thư viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. |
Pháp,
Nga, Trung Quốc, Nhật, Đức... thuộc các chuyên ngành lịch sử, khảo cổ,
bảo tàng, văn hoá... Trong đó, có trên 140 loại từ điển tra cứu, trên
200 loại tạp chí ngoại văn và các tạp chí chuyên ngành khoa học xã hội
xuất bản trong nước, có nhiều bộ tạp chí tương đối hoàn chỉnh: Tạp chí
của Trường Viễn Đông Bác cổ (BEFEO), tạp chí của Bảo tàng Lịch sử Quốc
gia Nhật Bản, tạp chí Nghệ thuật Châu Á(Arts Asiatiques), Viễn cảnh
Châu Á (Asian Perspectives), tạp chí Nam Phong... Đặc biệt thư viện
hiện lưu giữ nhiều ấn phẩm của các học giả Pháp nghiên cứu về lịch sử,
văn hoá Việt Nam, về Chămpa, về tiền sử Đông Dương được xuất bản từ
những năm đầu tk 20, trong đó có bộ gồm 12 tập xuất bản từ cuối tk 19
tại Paris. Hàng năm, kho sách của thư viện được bổ sung định kỳ với
hàng trăm đầu sách, tạp chí của các nhà xuất bản trong và ngoài nước,
cùng với nguồn sách không nhỏ trao đổi với các bảo tàng và các tổ chức
quốc tế trên thế giới thông qua công tác đối ngoại của bảo tàng.
Hiện
tại, thư viện có một kho tư liệu dịch và tư liệu trao đổi đáng kể (tài
liệu dịch chủ yếu từ tiếng Pháp, Anh, Nga, Đức...) phục vụ cho công tác
chuyên môn trong và ngoài thư viện như: khảo cổ, lịch sử, dân tộc, lịch
sử nghệ thuật, bảo tàng học.... Thư viện cũng rất coi trọng công tác
trao đổi tư liệu với các cơ quan bạn như: Viện khảo cổ học, Viện dân
tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam... Theo thời gian, số tư liệu ngày
càng phong phú thêm với hơn 2000 bản được chia theo 13 chủ đề: khảo cổ,
bảo tàng, lịch sử ... và nguồn tư liệu này vẫn thường xuyên được sưu
tầm, bổ sung từ các thư viện của các bảo tàng, các cơ quan nghiên cứu
trong và ngoài nước. BTLSVN cũng đã tiến hành nhân bản nhiều tư liệu
quý cho các cơ quan, địa phương trên cả nước với mục đích chung vì sự
nghiệp phát triển văn hoá Việt Nam.
Với
khối lượng sách, tạp chí, tư liệu khá phong phú, thư viện BTLSVN đã đáp
ứng được nhiều yêu cầu tham khảo, nghiên cứu của phần lớn các nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước có trình độ đại học và trên đại học theo
các chuyên ngành khoa học xã hội. Ngoài ra còn có các đối tượng khác là
học sinh, sinh viên và các độc giả quan tâm đến lịch sử, văn hoá Việt
Nam.
Hiện
tại, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu thông tin, thư viện
BTLSVN đã thực hiện quản lý ấn phẩm tại thư viện theo chương trình
LIBOL, độc giả có thể tra cứu trên máy vi tính tại thư viện để tra cứu.
Ngoài ra, thư viện cũng đang thực hiện số hoá các tư liệu hình ảnh hiện
lưu giữ tại BTLSVN (khoảng hơn 40.000 phim ảnh), phục vụ tốt cho công
tác tìm kiếm thông tin. Các độc giả có thể tra cứu trên máy vi tính
theo từng vấn đề cụ thể: Di tích lịch sử- văn hoá; Tư liệu liên quan
đến các nền văn hoá, các cuộc khai quật khảo cổ học...
|
Trong
nhiều năm qua bảo tàng thực hiện và phát huy các dự án cụ thể là phát
huy hệ thống thiết bị nghe nhìn do Chính phủ Nhật Bản tài trợ rất có
hiệu quả trong hỗ trợ trưng bày và lưu trữ tư liệu. Hệ thống thiết bị
nghe nhìn này bao gồm:
- Hệ thống camera theo dõi đảm bảo an ninh trong và ngoài bảo tàng.
-
Hệ thống monitor 29 inch được lắp đặt nhằm phục vụ khách tham quan nhằm
giới thiệu các bộ phim tư liệu tương ứng với từng giai đoạn lịch sử
được thể hiện trên hệ thống trưng bày.
-
Phòng dựng băng bao gồm hệ thống máy dựng và hai máy quay Betacam. Với
các thiết bị chuyên dụng này, BTLSVN có thể sản xuất được các bộ phim
tư liệu: từ việc quay phim lấy hình ảnh, đến dựng lại hoàn chỉnh bộ
phim. Ngoài ra hệ thống này có thể thực hiện việc dựng băng, cắt dựng
kỹ xảo, lồng tiếng, lồng nhạc, phỏng vấn và ghi hình.
- Hệ thống trang thiết bị âm thanh và máy chiếu nhằm bổ trợ và phục vụ cho các hội nghị, hội thảo khoa học.

|
| Phòng dựng băng |
Sau
một thời gian sử dụng và phát huy các thiết bị, phòng kỹ thuật đã ghi
lại được một số cuộc khai quật khảo cổ học, đi sưu tầm tài liệu theo
chủ đề và dựng thành các bộ phim tư liệu phát bổ trợ cho các phần trưng
bày, giúp cho khách tham quan cảm nhận nội dung trưng bày không chỉ
thông qua những sưu tập hiện vật gốc mà còn hiểu sâu sắc hơn nhờ những
bộ phim tư liệu này.
Hệ
thống màn hình cảm ứng với nội dung phong phú cũng được lắp đặt để phục
vụ khách tham quan. Hệ thống này giúp khách tham quan có thể tự tìm
hiểu thêm về lịch sử của bảo tàng hay đi sâu tìm hiểu về từng giai đoạn
lịch sử cụ thể tương ứng với từng gian trưng bày.
Đầu
năm 2005, BTLSVN được Bộ Văn hoá - Thông tin trang bị một trung tâm máy
tính hiện đại với chức năng lưu trữ dữ liệu thông tin và hình ảnh kỹ
thuật số. Đây là một trung tâm lưu trữ dữ liệu về hiện vật trong kho
bao gồm một máy chủ có dung lượng lớn, 1 máy tính PC tốc độ cao đặc
biệt có card chuẩn Digital Rapids phục vụ cho việc capture phim dữ liệu
từ băng hình sang đĩa DVD chuẩn MPECG2. 2 máy copy đĩa đó là máy
Proneer Professional DVD và Composer Pro Primera DVD/CD (máy này có
chức năng tự động in đĩa và in nhãn đĩa), mỗi máy có 2 cửa DVD. Ngoài
ra có nhiều thiết bị ngoại vi kèm theo như máy ảnh kỹ thuật số chụp ảnh
có chất lượng cao, máy scan, máy in, ...

|
Phòng lưu trữ dữ liệu và
hệ thống camera bảo vệ bảo tàng |
Với
trung tâm này, toàn bộ dữ liệu về hiện vật trong kho của bảo tàng sẽ
được lưu vào máy chủ hoặc lưu vào đĩa DVD, CD và được bảo quản trong tủ
chuyên dụng (tủ chống ẩm) phục vụ lâu dài công tác khai thác, nghiên
cứu thông tin về hiện vật bảo tàng.
Ngoài
việc lưu trữ dữ liệu thông tin về hiện vật, trung tâm còn có chức năng
lưu trữ hình ảnh kỹ thuật số, phim tư liệu. ảnh hiện vật bảo tàng khi
được đưa vào máy sẽ được lưu theo thư mục gắn liền với tên sưu tập.
Phim tư liệu của bảo tàng chuyển từ băng hình sang đĩa VCD hoặc được
lưu vào máy chủ phục vụ cho công tác khai thác dữ liệu và nghiên cứu.
Dự
kiến trong năm 2005-2006, BTLSVN sẽ liên kết với Trung tâm máy tính
thuộc Cục Di sản Văn hoá triển khai nâng cấp phần mềm “Quản lý hiện vật
trên máy vi tính" trên cơ sở chương trình Quản lý hiện vật hiện có của
bảo tàng. Đây là chương trình trong thời gian tới sẽ nối mạng trao đổi
thông tin với các bảo tàng trong nước.
|
Để
kéo dài tuổi thọ của các loại chất liệu hiện vật, Bảo tàng Lịch sử Việt
Nam (BTLSVN) đã đầu tư xây dựng, cải tạo cơ bản hệ thống kho bảo quản
hiện vật với các trang thiết bị cần thiết để kiểm soát môi trường theo
đúng yêu cầu kỹ thuật. Các kho bảo quản hiện vật không những được phân
chia theo giai đoạn lịch sử, nguồn gốc xuất sứ mà còn theo chất liệu để
vận hành các thiết bị máy móc, khống chế nhiệt độ, độ ẩm cho môi trường
kho bảo quản theo đúng yêu cầu kỹ thuật, phù hợp với từng chất liệu cụ
thể.

|
| Bảo quản hiện vật gốm |
Đối
với các hiện vật đã có hiện tượng bị huỷ hoại, BTLSVN đã trang bị một
phòng thí nghiệm chuyên về tu sửa bảo quản hiện vật tiên tiến vào loại
bậc nhất trong các bảo tàng trên cả nước vào thời điểm hiện nay với
nhiều trang thiết bị hiện đại cần thiết. Nhờ đó, nhiều hiện vật với
chất liệu khác nhau đã được bảo quản thành công tại bảo tàng. Điển hình
như các hiện vật chất liệu hữu cơ, các sưu tập tranh chất liệu giấy,
vải đã được bảo vệ trong môi trường khí trơ cho kết quả tốt, được nhiều
chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá cao. Bảo tàng cũng đã phối hợp
với một số nghệ nhân tu sửa bảo quản, phục dựng hiện vật gỗ sơn son
thếp vàng, khảm trai theo phương pháp truyền thống khá thành công.
Nhiều sưu tập hiện vật chất liệu kim loại như đồ đồng Đông Sơn, đồ đồng
phong kiến đã được áp dụng quy trình xử lý bảo quản tiên tiến. Hàng
loạt hiện vật chất liệu gốm, đất nung đã được gắn chắp phục dựng thành
công, phục vụ kịp thời cho công tác nghiên cứu và trưng bày. Chất liệu
thạch cao, ximăng trước kia đã được thay thế bằng những vật liệu mới
đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và thẩm mỹ, phù hợp với nguyên tắc bảo quản
phục dựng hiện vật bảo tàng do Hiệp hội bảo tàng quốc tế (ICCOM) quy
định.
Bên
cạnh công tác bảo quản hiện vật tại bảo tàng, BTLSVN còn tham gia giúp
đỡ một số bảo tàng địa phương và di tích, xử lý bảo quản, phục dựng
nhiều sưu tập hiện vật với các chất liệu khác nhau như: Bảo tàng Hùng
Vương (Khu di tích Lịch sử Đền Hùng), Bảo tàng Vĩnh Phúc, Bảo tàng Hà
Tĩnh, Bảo tàng Hà Tây, Ban quản lý Khu di tích Lịch sử Lam Kinh, Bảo
tàng Lạng Sơn, Bảo tàng Quân khu I, Bảo tàng Thông tin.v.v... Tham gia
tu bổ thành công hai pho tượng táng tại Chùa Đậu (Hà Tây) và Chùa Tiêu
theo phương pháp truyền thống…

|
| Một buổi tập huấn về tu sửa bảo quản hiện vật |
Trong
thời gian qua, nhiều dự án về tu sửa bảo quản hiện vật đã được thực
hiện như các dự án do SIDA và một số bảo tàng Hungary, Hà Lan... tài
trợ. Các dự án đã tổ chức nhiều khoá đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ về kỹ
thuật bảo quản ở trong và ngoài nước. Đặc biệt, từ năm 2001 đến năm
2004 một dự án về đào tạo và tài trợ xây dựng một phòng thí nghiệm về
tu sửa phục chế hiện vật bảo tàng đã được thực hiện tại BTLSVN. Đó là
kết quả hợp tác giữa BTLSVN và tổ chức APEFE mà đối tác kỹ thuật là Bảo
tàng Mariemont (Bỉ). Thông qua dự án này, đội ngũ cán bộ bảo quản của
BTLSVN và nhiều bảo tàng trong cả nước tham gia các khoá tập huấn về
bảo quản tu sửa hiện vật bảo tàng là chất liệu gốm, kim loại và bảo
quản hiện vật ngay tại hiện trường khai quật do các chuyên gia Bỉ giảng
dạy. Một số hoá chất chuyên dụng và nhiều máy móc hiện đại đã được áp
dụng trong công tác bảo quản hiện vật. Giai đoạn 2 của dự án sẽ được
tiếp tục thực hiện trong thời gian tới. Dự kiến sau bốn năm thực hiện,
đến năm 2010 một trung tâm quốc gia về bảo quản tu sửa hiện vật sẽ được
hình thành bao gồm: một trung tâm kỹ thuật hiện đại, một đội ngũ chuyên
gia, giảng viên về kỹ thuật bảo quản hiện vật bảo tàng được đào tạo,
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về cán bộ cũng như công tác bảo quản hiện
vật tại Bảo tàng quốc gia và các bảo tàng trên cả nước.
|
Công
tác quản lý và bảo quản hiện vật luôn được coi là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của bảo tàng. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (BTLSVN) đang lưu
giữ trên 100.000 hiện vật gốc trong kho bảo quản thuộc nhiều thời kỳ
lịch sử khác nhau, đáp ứng phần lớn nhu cầu nghiên cứu và trưng bày. Số
hiện vật này bao gồm nhiều chất liệu như đá, đồng, sắt, đất nung, gốm
sứ, xương ngà, giấy, vải và hàng trăm hiện vật quốc bảo bằng kim loại
quí như ấn vàng, kim sách cùng nhiều đồ ngự dụng của các thời vua chúa
phong kiến… Hiện vật của bảo tàng có nhiều nguồn khác nhau: một phần
tiếp nhận từ Bảo tàng Louis Finot trước 1954, hiện vật hiến tặng của
nhân dân trong cả nước, một phần tiếp nhận từ các cơ quan Công an, Hải
quan thu giữ qua kiểm tra buôn bán trái phép từ sau 1954 đến nay. Phần
lớn số hiện vật được sưu tầm, khai quật trên hầu khắp Việt Nam. Đặc
biệt những năm gần đây, bảo tàng trực tiếp tham gia khai quật và tiếp
nhận các sưu tập hiện vật khai quật từ 5 con tàu cổ ở vùng biển Việt
Nam: Tàu cổ Hòn Cau (1690), Tàu cổ Hòn Dầm (Kiên Giang, tk 15), tàu cổ
Cù Lao Chàm (Quảng Nam, tk 15), tàu cổ Cà Mau (1723 - 1735), tàu cổ
Bình Thuận (1573-1620). Riêng Tàu cổ Cù Lao Chàm đã nhập vào kho bảo
tàng gần 5000 hiện vật, trong đó có sưu tập hiện vật độc bản.

|
| Lãnh đạo Bộ Văn hóa - Thông tin tham quan kho hiện vật Đông Nam Á. |
Trong
những năm qua, hệ thống kho hiện vật của bảo tàng đã được Bộ Văn hóa -
Thông tin đầu tư nâng cấp như: cải tạo môi trường ổn định phù hợp với
từng chất liệu bảo quản; tăng cường thiết bị, tủ bục thiết kế theo yêu
cầu của mỗi chủng loại và chất liệu hiện vật; trang bị hệ thống máy
điều hoà và các phương tiện hút ẩm, thông gió, báo cháy, báo động, ánh
sáng hợp lý. Để làm tốt công tác quản lý và phát huy một cách cao nhất
tài sản quốc gia, công tác đăng ký nhập hiện vật đã được thực hiện theo
một quy trình thống nhất, khoa học. Hệ thống phiếu, sổ sách đã được sắp
xếp và bổ sung thông tin. Đặc biệt bảo tàng đã áp dụng công nghệ tin
học vào việc quản lý hiện vật. Nhìn chung, hiện vật bảo quản trong kho
của bảo tàng đã được kiểm kê, xác định giá trị và phân loại thành những
sưu tập một cách khoa học. Sau đây là một số sưu tập cơ bản:
- Sưu tập hiện vật đồ đá
bao gồm các di tích thời đại đá cũ cho đến hậu kỳ đá mới, sơ kỳ đồ sắt,
từ những chiếc rìu tay ghè đẽo đến những rìu, bôn mài toàn thân, những
chiếc vòng tay, hoa tai phản ánh các kỹ thuật chế tác đạt trình độ tinh
xảo của kỹ thuật chế tạo đồ đá. Sưu tập này còn bao gồm cả các loại
tượng nghệ thuật, vật liệu kiến trúc của các triều đại phong kiến kế
tiếp nhau. Trong đó, nhiều hiện vật đã trở thành độc bản như những
tượng đầu người mình chim ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh); tượng hổ đá,
chim đá lăng Trần Thủ Độ (Thái Bình)..
- Sưu tập điêu khắc đá và bi ký cổ Chămpa bao
gồm hàng trăm hiện vật mang các phong cách nghệ thuật đặc trưng của mỗi
giai đoạn đã thể hiện lịch sử phát triển của nghệ thuật cổ Chămpa, tk 7
- 13.
- Sưu tập đồ đồng
trong đó có đồ đồng cổ phong phú về loại hình, chiếm vị trí đặc biệt
quan trọng trong lịch sử dựng nước của dân tộc Việt Nam. Trống đồng
cùng với công cụ, vũ khí bằng đồng tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn, đã
phản ánh trình độ kỹ thuật đúc đồng của dân Việt cổ và góp phần chứng
minh sự ra đời của nhà nước sớm ở khu vực Đông Nam Á. Đồ đồng thuộc
triều đại phong kiến bao gồm cả các loại tượng, khánh, chuông, trống,
ấm, bát, đĩa, chén, quả cân, tiền kim loại, ấn, triện...
- Sưu tập đồ sắt
gồm các loại công cụ vũ khí như mai, cuốc, rìu, giáo, gươm, mũi tên...
mà trong đó, đáng chú ý những công cụ bằng sắt ở các di tích văn hóa Sa
Huỳnh, miền trung Trung bộ Việt Nam.
- Sưu tập hiện vật bằng xương, sừng, ngà
gồm những dấu tích hóa thạch về con người và động vật cổ được phát hiện
qua khảo sát, khai quật các di tích khảo cổ học. Bên cạnh đó, có cả
những công cụ làm bằng xương như dùi, đục... trong các di tích tiền sơ
sử.
- Sưu tập đồ gốm sứ
rất phong phú gồm đồ đất nung của các di tích văn hóa thời Tiền - Sơ sử
và gốm men sản xuất trong các thời đại phong kiến. Đa số đồ gốm men
trong giai đoạn 10 thế kỷ đầu công nguyên do những học giả Pháp phát
hiện trong quá trình khai quật các di tích lò nung gốm và những ngôi mộ
phong cách Hán. Phần lớn đồ gốm men thuộc các triều đại phong kiến từ
thời Lý cho đến thời Nguyễn là các dòng gốm men ngọc, gốm men trắng,
gốm hoa lam, gốm hoa nâu, gốm men lam xám, gốm men nhiều màu, gốm men
rạn... Sự có mặt của hầu hết dòng gốm không những phác hoạ tổng quan
lịch sử nghề gốm Việt Nam mà còn cung cấp nhiều thông tin quan trọng về
lịch sử nghệ thuật, kinh tế hàng hóa, sự phát triển của Phật giáo...
trong nhiều thế kỷ. BTLSVN còn lưu giữ các sưu tập hiện vật gốm Trung
Quốc (tập trung dưới 2 triều Minh và Thanh), gốm sứ Nhật Bản (nổi bật
là gốm Hizen), gốm sứ Thái Lan (với các loại gốm men ngọc, vẽ nâu và vẽ
nhiều màu...)
- Sưu tập đồ đất nung
bao gồm các loại hiện vật kiến trúc như gạch, ngói; trang trí kiến trúc
như các đầu đao hình rồng, phượng, những lá đề in nổi rồng, phượng...
chỉ riêng sưu tập gạch đã có rất nhiều mẫu tiêu biểu cho các thời đại:
gạch xây mộ có hoa văn ô trám lồng, chữ S; gạch vuông lát nền ở sân
điện Hoa Lư (Ninh Bình) với 2 phượng bay, bông hoa sen nở; gạch chữ
nhật hình ngựa có cánh, voi lồng, phượng múa (thời Mạc)...
- Sưu tập đồ gỗ,
bao gồm những mộ quan tài thuyền: Việt Khê, (Hải Phòng), Châu Can (Hà
Tây)…; những tượng gỗ thờ: tượng Phật nhập niết bàn, tượng Adiđà, tượng
Thích ca sơ sinh...; tượng thú: tượng nghê, tượng hạc...; những mảng
chạm trang trí kiến trúc, hoành phi, câu đối, bài vị, ngai thờ gỗ sơn
son thếp vàng và gỗ khảm trai…
- Sưu tập đồ vải bao gồm áo rước, áo triều phục, tranh thêu, cờ, trướng, sớm nhất là đồ trang phục trong mộ vua Lê Dụ Tôn (đầu thế kỷ 18).
- Sưu tập đồ giấy,
gồm các loại sắc phong, tranh giấy, văn tự lịch sử: bộ tranh ở Đền Độc
Lôi, Bút tích của Vua Quang Trung, lệnh chỉ thời Tây Sơn..
Bảo tàng đang tiếp tục nghiên cứu xây dựng các sưu tập hiện vật nhằm đáp ứng ngày càng cao yêu cầu quản lý và phát huy hiện vật bảo tàng.

|
| Một phần kho hữu cơ. |
Phối
hợp cùng công tác tuyên truyền, giáo dục trong việc triển khai các cuộc
trưng bày lưu động ở nhiều địa bàn trên cả nước. Đặc biệt Phòng kiểm kê
- bảo quản còn tham gia biên soạn và xuất bản nhiều công trình khoa học
giới thiệu về các sưu tập hiện vật. Được phép của Chính phủ, Bộ Văn hoá
Thông tin, BTLSVN đã phối hợp cùng nhiều bảo tàng trong cả nước đưa
những di sản văn hoá đặc sắc của Việt Nam giới thiệu với bè bạn quốc
tế, tăng cường sự hiểu biết và giao lưu quốc tế.
|
Bảo
tàng Lịch sử Việt Nam (BTLSVN) là một trong ba trung tâm nghiên cứu
khảo cổ học lớn của cả nước. Trong những năm qua, BTLSVN đã đóng góp
tích cực vào việc phát hiện, khai quật các di tích thuộc nhiều thời đại
lịch sử khác nhau đặc biệt là giai đoạn Đông Sơn và Tiền Đông Sơn. Các
nhà khảo cổ học ở BTLSVN là những người đi tiên phong trong nghiên cứu
táng thức mộ thuyền văn hoá Đông Sơn.

|
| Một cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước. |
Nhiều
di tích hang động văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn đã được phúc tra, khai
quật. Những sưu tập hiện vật thuộc các nền văn hoá này cũng được chỉnh
lý, minh định lại và được xuất bản thành sách.
Nhiều
kỹ nghệ, văn hoá đã được các nhà khảo cổ học ở BTLSVN phát hiện, làm
sáng rõ hơn tiến trình phát triển thời tiền sử. Một trong những đóng
góp quan trọng là việc phát hiện và nghiên cứu kỹ nghệ mảnh tước Ngườm
(Thái Nguyên) thuộc hậu kỳ thời đại đá cũ. Phát hiện này được coi là
một trong những thành tựu quan trong trong việc nghiên cứu thời đại đá
cũ hai thập niên cuối tk 20. Các nền văn hoá nổi tiếng thuộc hậu kỳ
thời đại đồ đá mới - sơ kỳ kim khí như văn hoá Hoa Lộc (Thanh Hoá), văn
hoá Xóm Cồn (Phú Yên - Khánh Hoà) cũng được xác lập và được đưa vào
giảng dạy trong các giáo trình khảo cổ học.
Nhiều sưu tập hiện vật đã được bổ sung cho kho bảo tàng và phát huy trưng bày thông qua những hoạt động khảo cổ học nói trên.
Trong những năm gần đây
BTLSVN đẩy mạnh việc nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung và văn hoá Óc Eo và Tiền Óc Eo
ở đồng bằng Nam Bộ. Các di tích Bến Giằng (Quảng Nam), Bình Châu, Sa Huỳnh
(Quảng Ngãi), Động Cườm (Bình Định)…đã được khai quật quy mô. Các di tích này
chẳng những cung cấp một khối lượng hiện vật đồ sộ, đa dạng về loại hình mà còn
giúp nhận thức các giai đoạn phát triển sớm muộn của văn hoá Sa Huỳnh.
Ở đồng bằng Nam Bộ, các nhà khảo cổ
học ở BTLSVN đã kết hợp với các đồng nghiệp tại các bảo tàng địa phương tiến
hành nhiều đợt khảo sát và đã phát hiện, khai quật những di tích quan trọng
thuộc giai đoạn Tiền Óc Eo và Óc Eo sớm như Rạch Núi, Lộc Giang, Gò Ô Chùa, Gò
Hàng…(tỉnh Long An), Long Bửu, Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt, Giồng Am…(Thành phố Hồ
Chí Minh), Gò Cây Me, Giồng Lớn, Bưng Bạc, Bưng Thơm…(Bà Rịa - Vũng Tàu).
Rất nhiều sưu tập hiện vật có giá trị
đã thu được qua khai quật, bổ sung cho cả hệ thống trưng bày của BTLSVN và các
bảo tàng tỉnh.
Trong khoảng gần 10 năm trở lại đây,
thông qua hoạt động khảo cổ học, BTLSVN còn phục vụ đắc lực vào việc trùng tu
tôn tạo các di tích lịch sử và quy hoạch xây dựng. Từ năm 1995 tới nay BTLSVN
đã liên tục tiến hành nhiều mùa khai quật tại khu di tích Lam Kinh (Thanh Hoá),
Đại Nội Huế (Thành phố Huế), di tích Long Đọi Sơn (Hà Nam), Thành cổ Sơn Tây
(Hà Tây), di tích Tây Thiên, Thành Ống (Vĩnh Phúc), làng văn hoá các dân tộc
Đồng Mô (Hà Tây). Vào năm 2005, BTLSVN đã kết hợp với Sở văn hoá Thông tin Ninh
Bình triển khai nghiên cứu khảo cổ học tổng thể Cố đô Hoa Lư để trùng tu tôn
tạo khu di tích quan trọng này.
Để tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng
Long - Hà Nội, BTLSVN đã điều tra, khai quật nhiều di tích có niên đại Lý,
Trần, Lê nhằm tìm hiểu rõ hơn bộ mặt của Thăng Long xưa, như các di tích Chùa
Báo Ân, Kim Lan (Gia Lâm), điều tra lại La Thành và đào thám sát ủng Thành.
BTLSVN hiện là cơ quan duy nhất trong nước
hoạt động khảo cổ học dưới nước. Nhiều con tàu đắm đã được BTLSVN phối hợp với
các chuyên gia và tổ chức trong và ngoài nước tiến hành khai quật. Đó là tàu cổ
Hòn Cau (Bà Rịa - Vũng Tàu) khai quật tháng 6/1990 chở gốm sứ thời Thanh có
niên đại 1690, tàu cổ Hòn Dầm (Kiên Giang) vận chuyển gốm Thái Lan tk 15, tàu
cổ Cù Lao Chàm (tỉnh Quảng Nam) khai quật tháng 5/1997 vận chuyển gốm xuất khẩu
Việt Nam tk 15, tàu cổ Cà Mau khai quật tháng 8/1998 chuyên chở gốm sứ Trung
Quốc đầu tk 18. Tàu cổ Bình Thuận chở gốm Trung Quốc tk 16- 17 v.v…
BTLSVN còn có chức năng giúp giám định
hiện vật cho các bảo tàng địa phương, hiện vật trong các di tích lịch sử như
đình, đền, chùa, hiện vật thuộc sưu tập tư nhân nếu có nhu cầu. Nhiều nhà khảo
cổ học trong bảo tàng là uỷ viên hội đồng giám định cổ vật của Bộ Văn hoá -
Thông tin
|
Đối
với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (BTLSVN), hoạt động nghiên cứu giữ vai
trò quan trọng, nhằm mục đích phục vụ công tác trưng bày và bảo quản
hiện vật. Thông qua hệ thống trưng bày, bảo tàng có nhiệm vụ tuyên
truyền và phổ biến tri thức lịch sử cho khách tham quan.
Cùng
với giới Sử học, giới Bảo tàng học và các cơ quan chuyên ngành khác,
BTLSVN đã góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề về giai đoạn tiền sử, sơ sử
và lịch sử của dân tộc.
Hình thức hoạt động:
+
Tổ chức và đồng tổ chức các cuộc hội thảo khoa học (Hội thảo về công
tác bảo quản, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong bảo tàng, Hội thảo tiếp
thị nghệ thuật văn hoá ở Việt Nam, Hội nghị Văn hoá Sa Huỳnh......)
+ Tham gia các cuộc Hội thảo, Hội nghị khoa học trong và ngoài nước.
+ Xây dựng các đề tài khoa học ngắn hạn và dài hạn cấp cơ quan và cấp Bộ
+ Phối hợp với các cơ quan ở trong nước và quốc tế nghiên cứu các đề tài về lịch sử - văn hoá Việt Nam.

|
| Hội thảo tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam |
|
Nghiên
cứu lịch sử văn hóa dân tộc từ thời Tiền sử đến Cách mạng Tháng Tám
1945, chủ yếu từ nguồn tư liệu hiện vật của bảo tàng. Thường xuyên cập
nhật bổ sung thông tin, tư liệu hiện vật mới, hoàn thiện hệ thống trưng
bày chính và trưng bày ngoài trời cả nội dung khoa học và nghệ thuật
trưng bày theo định hướng: hàn lâm - hiện đại - hấp dẫn. Hệ thống trưng
bày chính hiện nay là kết quả của lần chỉnh lý nâng cấp trưng bày lần
thứ 4 (1998 - 2000).
Với
hơn 2200 m2 diện tích trưng bày, gần 7000 hiện vật gốc và nhiều tư
liệu, tư liệu, tài liệu khoa học phụ có giá trị, hệ thống trưng bày
chính của BTLSVN đã phản ánh sinh động những thời kỳ, những sự kiện nổi
bật trong tiến trình lịch sử dân tộc. Được đông đảo các đồng nghiệp,
khách tham quan trong nước và ngoài nước đánh giá BTLSVN là một bảo tàng tầm cỡ trong khu vực.
Sau
lần chỉnh lý nâng cấp, bảo tàng thường xuyên bổ sung các sưu tập hiện
vật mới sưu tầm, sưu tập độc bản tàu cổ Cù Lao Chàm (Hội An, Quảng
Nam), sưu tập di vật văn hóa Óc Eo… và biên soạn, hiệu đính hệ thống nhãn chú thích, tạo ra sức hấp dẫn mới cho bảo tàng và đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách tham quan.
Hiện
nay, bảo tàng đang xúc tiến nghiên cứu, xây dựng dự án nâng cấp hệ
thống chiếu sáng trưng bày. Với những thiết bị chiếu sáng hiện đại và
nghệ thuật chiếu sáng tinh tế sẽ giúp người xem cảm thụ giá trị tiềm ẩn
trong từng cổ vật, từng sưu tập hiện vật một cách hiệu quả hơn.
Hàng
năm bảo tàng phối hợp tổ chức từ 3 - 5 cuộc trưng bày chuyên đề với các
bảo tàng trong cả nước, các hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các
nhà sưu tập tư nhân với chủ đề trưng bày ngày càng đa dạng.
Những năm gần đây, bảo tàng đã tổ chức thành công nhiều cuộc trưng bày được dư luận xã hội và các nhà nghiên cứu đánh giá cao:
- Kho báu từ 5 con tàu cổ dưới đáy biển Việt Nam.
- Cổ vật Thăng Long - Hà Nội.
- Cổ vật Đông Sơn - Rực rỡ một nền văn minh Việt cổ.
- Cổ vật đặc sắc văn hoá Óc Eo.
- Cổ vật Lý, Trần - Dấu ấn văn minh Đại Việt TK11 - 14…
Đặc
biệt, lần đầu tiên BTLSVN cùng với 12 bảo tàng trong cả nước phối hợp
với Bảo tàng Nghệ thuật và Lịch sử Hoàng gia Bruxelles (vương quốc Bỉ),
Bảo tàng Dân tộc học Viên (Cộng hoà Áo) trưng bày tại hai nước này một
cuộc trưng bày lớn với chủ đề : Việt Nam - quá khứ và hiện tại, trong
thời gian từ 11/2003 - 11/2004. Với 450 cổ vật tham gia trưng bày gồm
416 cổ vật của 13 bảo tàng Việt Nam, số còn lại của 8 bảo tàng các nước
Châu Âu, cuộc trưng bày đã thành công vang dội, giúp cho cộng đồng Châu
Âu có được cái nhìn về Việt Nam đúng đắn và đầy đủ hơn.
Thường
xuyên hỗ trợ các bảo tàng tỉnh, thành phố, các bảo tàng chuyên ngành
trong việc nghiên cứu xây dựng đề cương trưng bày, giải pháp và thiết
kế mỹ thuật một số bảo tàng, nhà truyền thống trong cả nước: Nhà trưng
bày văn hoá dân gian (Hội An - Quảng Nam), Bảo tàng văn hoá Sa Huỳnh và
Chămpa (Duy Xuyên - Quảng Nam), Nhà trưng bày gốm sứ cổ Hải Dương, Bảo
tàng Nhân học(Trường Đại học KHXH&NV),…
Tổ
chức, hướng dẫn khách tham quan trong nước và nước ngoài đến tham quan,
nghiên cứu, học tập tại bảo tàng. Từng bước xúc tiến công tác
maketting, quảng bá về bảo tàng, thu hút khách tham quan: xây dựng
website, phối hợp với Ban Khoa giáo (VTV2) Đài
truyền hình TW xây dựng một số phim khoa học, phối hợp với Đài Tiếng
nói Việt Nam giáo dục lịch sử từ xa, định kì tổ chức Hội nghị cộng tác
viên với ngành Du lịch, Giáo dục-đào tạo.
Số
lượng khách tham quan đến với bảo tàng ngày càng đông đảo: những năm
trước đây khoảng 50 - 70 nghìn/ lượt người, những năm gần đây số lượng
ấy không ngừng tăng, trung bình mỗi năm từ 90 - 130 nghìn lượt người.
Công
tác tuyên truyền, giáo dục ngoài bảo tàng, vốn là truyền thống của
BTLSVN, những năm gần đây càng được đặc biệt quan tâm. Hiện tại, bảo
tàng đang có 3 bộ trưng bày lưu động hoạt động sôi động ở các tỉnh đồng
bằng Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc phục vụ hàng chục vạn lượt người mỗi
năm. Bảo tàng đã nghiên cứu thực nghiệm hình thức trưng bày lưu động
mới: kết hợp giữa trưng bày tư liệu hình ảnh với trưng bày hiện vật gốc
(sưu tập hiện vật của bảo tàng địa phương - nơi phối hợp trưng bày hoặc
BTLSVN) tại một số tỉnh: Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hưng Yên, Phú
Thọ, Hà Nam,…và đang tiếp tục hoàn thiện để phương thức trưng bày lưu
động này sớm được triển khai rộng rãi trong cả nước.
|
|
|