Bạn chưa chọn câu trả lời
Biểu quyết thành công
Biểu quyết thất bại

100 năm báo Nữ Giới Chung (1918-2018): Tờ báo có xu hướng chống Pháp kín đáo (Phần 2 và hết)

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  Ngày 03/07/2018
  • 42
  • 0

2. Nữ Giới Chung với việc cổ vũ, ủng hộ phong trào Duy tân

Như chúng ta đã biết, vào những năm đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của cuộc vận động Duy tân của Trung Quốc, Nhật Bản duy tân và chiếnthắng Nga hoàng, qua làn sóng Tân thư, tân văn, ở Việt Nam đã xuất hiện hai phong trào chính trị có xu hướng rõ rệt: phong trào cải cách ôn hòa do Phan Chu Trinh khởi xướng cùng các đồng chí của ông như Trần Quí Cáp, Nguyễn An Khương, Trần Chánh Chiếu ở miền Trung và miền Nam; xu hướng cách mạng bạo động, mà người đứng đầu là Phan Bội Châu.

Phong trào Duy tân ở miền Trung và miền Nam mở rộng kinh doanh công thương nghiệp, lập các công ty, cơ sở kinh doanh để cạnh tranh quyền lợi với Pháp, Hoa, Ấn kiều... Chúng ta có thể kể như: công ty Phượng Lâu ở Thanh Hóa, Triều Dương thương quán ở Vinh, Nghệ An, Quảng Nam công ty, Liên Thành công ty...

Ở miền Nam có các khách sạn, các công ty như Chiêu Nam lầu ở Sài Gòn, Minh tân công nghệ xã tại Chợ Lớn, các hiệu buôn Tân Hiệp Long của Hồ Nhật Tân ở Long Xuyên, hiệu thuốc bắc Tư Bình Đường ở Bến Tre... đều có thể coi như là những cơ sở, những “hộp thư” liên lạc của các nhân sĩ trí thức yêu nước Nam Kỳ hưởng ứng Đông Du.

Phong trào vận động Duy tân ở Nam Kỳ có tên là cuộc vận động Minh Tân đã dội những ảnh hưởng trực tiếp đến báo chí xứ này, trong đó tờ Lục tỉnh tân văn có thể coi là một ví dụ tiêu biểu.

Lục tỉnh tân văn ra số đầu tiên ngày 14.11.1907, do Gilbert Trần Chánh Chiếu (Trần Nhựt Thăng) làm chủ bút. Có thể nói, 50 số đầu của Lục tỉnh tân văn chính là “tiếng nói của cuộc vận động Minh Tân”(1) với hàng loạt các bài có tính chất “cổ vũ, chấn hưng dân trí, dân khí, hợp quần kinh doanh chống lại sự độc quyền của tư bản Pháp, sự cạnh tranh của tư sản người Hoa, người Ấn”(2). Đây cũng chính là lý do để nhà cầm quyềnPháp bắt giam Trần Chánh Chiếu, sau đó, vị trí chủ bút rơi vào tay nhiều người khác và màu sắc của tờ báo cũng khác đi.

Để cổ vũ, ủng hộ Minh Tân, Nữ Giới Chung có một số bài, cụ thể như sau:

Bài “Lời giới thiệu tiệm buôn” trên Nữ Giới Chung số 4 ngày 1.3.1918, công khai vận động góp cổ phần cho Công ty Liên Thành(3), một tổ chức của những nhà yêu nước đứng ra kinh doanh để lấy tiền giúp phong trào Đông Du, bài báo có viết:

“Bổn báo vì thấy phần hùn thêm vốn của hội Liên Thành cũng chắc sẽ có lợi ích cho người vô hùn nhiều lắm, và cũng có ích chung trong cuộc tiến hóa về việc kinh tế của xứ ta”. So với các công ty vô danh (société anonyme) của người Việt Nam, Nữ Giới Chung giới thiệu 5 nét đặc sắc của hội Liên Thành:

- “Thiết lập sớm hơn hết và giữ gìn lâu hơn hết” (thành lập ngày 6.6.1906, tại Phan Thiết).

- “Có số chủ hùn vốn đông hơn hết” (hơn 200 người).

- “Số tư bổn lớn hơn hết” (93.200 đồng).

- “Cuộc dinh nghiệp lớn hơn hết” (có 6, 7 đại lý ở Trung Kỳ và hầukhắp các tỉnh Nam Kỳ).

- “Có nhiều điều kiện tiện lợi cho chủ hùn hơn hết” (người xướng lập, quản lý đều là người Việt Nam; tiếng Việt được dùng trong sổ sách và khi bàn định việc Hội...)

Bài “Lời giới thiệu tiệm buôn” trên Nữ Giới Chung số 4 ngày 1-3-1918, công khai vận động góp cổ phần cho

Công ty Liên Thành

Với bài “Đồ lên giá”, tác giả Trần Thị Đào đã lên tiếng hô hào tẩy chay hàng ngoại, cổ vũ tranh đua quyền lợi với Hoa, Ấn kiều. Trước việc thương nhân Hoa, Ấn kiều lợi dụng tình hình chiến tranh đã tăng giá hàng lên gấp 2, 3 lần, tác giả lên án, đó là “cách ăn lời cắt cổ” và khuyên người dân “mình biết đồ bán mắc thì mình đừng mua, mình không mua thì họ bán cho ai, rồi coi xem họ có hạ giá xuống không cho biết” [Nữ Giới Chung, số 20].

Tác giả Trần Thị Đào cũng chính là người đề nghị Toàn quyền Đông Dương A. Sarraut thành lập một Trường Công thương tại Sài Gòn (École de Commerce et d’Industrie) để người Việt Nam có thể “học nghề nghiệp bán buôn”. Xã hội Việt Nam truyền thống chỉ trọng hai nghề: “nghề làm quan” và “nghề làm ruộng” (nhất sĩ, nhì nông), cho nên, hậu quả là “dân ta dốt hơn người các nước”. Tác giả cho rằng, để có thể “cạnh tranh với người dị quốc”, người Việt Nam phải “lo thế nào cho biết bán buôn, cho thạo nghề nghiệp”.

3.Kêu gọi hợp quần Bắc -Trung- Nam

Đây cũng chính là tôn chỉ thứ 4 mà bà chủ bút Sương Nguyệt Anh đã từng đề xướng trên Nữ Giới Chung số đầu tiên “Liên lạc mối cảm tình, tỏ cái nghĩa chủng tộc, kết một giải đồng tâm, hiệp cả Bắc, Trung, Nam, làm một đoàn thê lớn”. Để làm rõ ý hơn, bà dùng 4 chú thích:

- “mối cảm tình”: lòng biết thương xót nhau.

- “chủng tộc”: giống nòi, cùng chung một tổ, một màu da.

- “đồng tâm”: cùng một lòng.

- “đoàn thê”: nhiều người hiệp làm một. [Nữ Giới Chung, số 1].

Như vậy, làm sao để nâng cao ý thức cộng đồng cho người phụ nữ, từ chỗ biết thương xót nhau để chung lòng chung sức hợp lại thành một đoàn thể lớn là một trong 4 mục đích của Nữ Giới Chung.

Mục đích này lại được tác giả Nguyễn Song Kim - Nguyễn Mạnh Bổng nhắc lại qua bài xã thuyết “Bàn về lòng bác ái” trên Nữ Giới Chung số 11 ngày 19-4-1918. Tác giả viết:

... lấy cái nghĩa loài giống mà nói, thì phàm những người vàng da đen tóc, đều nên kết nghĩa với nhau cho cố kết; lấy cái nghĩa quốc gia mà nói thì phàm trong 3 xứ, không cứ Trung Kỳ, Nam Kỳ, Bắc Kỳ cùng chung một phong tục, cùng chung một ngôn ngữ, cùng chung một tổ tiên đều phải yêu nhau như con một mẹ sanh ra cả”.

Theo tác giả, “lòng bác ái” ở đây, không chỉ có nghĩa là đoàn kết Bắc- Trung-Nam mà xa rộng hơn, phải biết kết tình nghĩa với cả nhân loại.

Bài xã thuyết “Bàn về lòng bác ái” trên Nữ Giới Chung số 11,
ngày 19-4-1918

Qua một bài khác, Nguyễn Mạnh Bổng phê phán thói thờ ơ trước tình cảnh khốn khổ của đồng bào mình, cho đó là một việc “quấy” (xấu) trong xã hội [Nữ Giới Chung, số 12].

Như vậy, bác ái còn có nghĩa là lòng thương người. Lòng bác ái- thương người còn được tác giả làm rõ thêm: “phải lấy việc giúp người ngu đần hơn mình, nghèo hèn hơn mình, những người bị hoạn nạn, tàn tật làm trách nhiệm”.

Còn Nguyễn Thị Bồng - Nguyễn Văn Vĩnh bàn về vấn đề này như:

Tệ nhứt là một nước Nam, Bắc, Trung tam kỳ coi nhau như Tần, như Việt, không được cùng nhau một ý chí, một xu hướng, một cảm tình, người Bắc đối với người Nam lạt lẽo, người Trung đối với người Bắc lạnh nguội; hai mươi năm triệu đồng bào tan tác như một bàn tán sa (cát rả) xé lẻ nhau ra làm 25 đoàn thể, cùng ghen ghét nhau, cùng hãm hại nhau. [Nữ Giới Chung, số 16].

Tóm lại, các tác giả trên Nữ Giới Chung đều có điểm thống nhất: giáo dục lòng nhân ái từ đó nâng cao mối liên hệ cũng như ý thức cộng đồng cho người phụ nữ và độc giả cả 3 miền Bắc - Trung - Nam.

4.Nữ Giới Chung kín đáo phản đối chính phủ Pháp.

Trước việc thực dân Pháp tăng cường bắt lính người Việt Nam trong cuộc chiến tranh thế giới thứ Nhất, Nữ Giới Chung số 11 ngày 19-4-1918 có đăng bài thơ:

Điếu ông Một còn

Vì nước thân vong tiếc chẳng cùng

Từ rày Nam Việt vắng tin ông

Ngàn năm chiến địa xương tan lạc

Một phúc sa tràng mạng bỏ không

Công cán cũng như đèn trước gió

Thân danh chẳng khác bọt ngoài sông

Xót thương bấy kẻ lòng ngay thảo

Chẳng uổng cho đời tiếng ngợi phong.

Những sự hy sinh cho nước Pháp quả thật vô nghĩa khác gì “đèn trước gió”, “bọt ngoài sông”.

Bài “Huê náo”, Nữ Giới Chung số 20, ngày 28-6-1918

Ngoài ra, Nữ Giới Chung còn bày tỏ thái độ trước sự thống trị của người Pháp ở Việt Nam qua bài “Huê náo”, Nữ Giới Chung số 20, ngày 28.6.1918. Qua câu chuyện giữa các bông hoa ở hai nơi: rừng già và chốn đô thị, tác giả Nguyễn Kim Châu muốn bộc lộ ẩn ý “thà ẩn trong rừng già mà được chữ tự do”, có mây, nắng, gió, bướm, ong (cuộc sống tự nhiên),còn chốn đô thị, những bông hoa bị “tay đời làm bầm làm dập”, ám chỉ sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam.

Tường Khanh

Chú thích:

1,2. Đỗ Quang Hưng (cb): Lịch sử báo chí Việt Nam 1965-1945, NXB Đại học QGHN, Hà Nội, 2000, tr 32.

3.Chính công ty Liên Thành đã giúp đỡ Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) đi từ Phan Thiết đến Sài Gòn vào tháng 9-1910. Theo bài “Một cái nhìn mới về Phan Chu Trinh- Nguyễn Ái Quốc” của Huỳnh Lý và Trần Viết Ngạc. Tạp chí Xưa nay, số 64 b, tháng 10-1999.

Liên kết website

Số lượng truy cập

Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đơn vị quản lý: Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Giấy phép số: 164/GP-TTĐT cấp ngày: 31/10/2012

Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cường - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Địa chỉ: Số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số 216, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Email: banbientap@baotanglichsu.vn - Tel/Fax: 84.4.38252853